Cuộc thi VIẾT CHO NGƯỜI TÔI YÊU “Loài hoa của lính đảo” – Tác giả: Thùy Dương Hoàng Thị

   

Những cánh thư tay và cuộc điện thoại ngắn ngủi đã đem tôi đến gần bên anh, tình yêu của chúng tôi cứ thế lớn dần lên. Anh hứa nghỉ phép cuối năm nay anh sẽ về thăm tôi và ra mắt nội. Lần đầu nội chỉ thở dài khi nghe tôi nói về anh.

Tôi hằng ao ước được đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa để được một lần ngắm cây bàng vuông. Một loài cây ví như người lính đảo có sức chịu đựng kiên cường ở nơi đầu sóng ngọn gió, đâm chồi nảy lộc xanh ngát giữa biển trời. Một loài cây chỉ nở hoa ban đêm khi bình minh ló dạng hoa sẽ tự rụng xuống thành những thảm hoa tuyệt đẹp. Nếu hoa trinh nữ được ví là giai nhân giữa hoa rừng làm xao xuyến bao người lính phong trần thì hoa bàng vuông là nàng hoàng hậu biển rung động bao trái tim chàng lính đảo.

Đêm ấy tôi đã thức đến khi trăng lên, gió nhẹ từ biển thổi vào rung rinh những chùm hoa màu trắng tím. Tôi reo lên ngỡ ngàng vào thời khắc hoa khoe sắc rực rỡ nhất. Dưới ánh trăng vằng vặt, hoa bàng vuông trông giống những bông pháo hoa sáng rực cả bầu trời. Vẻ đẹp thật thanh tao với mùi hương dịu nhẹ.

Tôi tỉnh giấc trong tiếng tụng kinh niệm Phật của bà nội. Kỳ lạ “Đêm trăng dưới gốc bàng vuông ấy cứ lởn vởn trong giấc mơ tôi.”

Tay lần tràng hạt miệng niệm chú đại bi, tôi biết nội cầu xin cho chuyến đi ngày mai của tôi được bình yên.

“Cháu dậy sớm vậy, mới có 3 giờ sáng?”

“Cháu dậy sắp xếp hành lý để ngày mai đi.”

“Đi đường cẩn thận nghe cháu.”

“Dạ, cháu nhớ rồi nội.”

Tôi thắp nén nhan lên hai bát nhan không lấy một di ảnh, chỉ có 2 tấm bằng Tổ quốc ghi công của ông nội và bố tôi treo trang trọng trên bàn thờ. Tôi xin họ phù hộ cho bà nội khỏe mạnh để tôi yên tâm ra đảo. Lửa từ nén hương bỗng phụt cháy, tàn trò rơi xuống phủ đầy bát nhang.

Đảo Lý Sơn cách cảng Sa Kỳ thành phố Quảng Ngãi hơn một giờ đồng hồ đi tàu. Màu áo xanh tình nguyện của đoàn chúng tôi sáng lên trên bến cảng. Tiếng hát ca sĩ Khánh Hòa vang lên trên tàu cùng những thước phim ngắn về các chiến sĩ ở Lý Sơn tại nhà chờ làm trái tim cô gái mới lớn thổn thức như có điều gì đang chờ đợi phía trước, lòng nôn nao muốn đến huyện đảo.

Tiếng còi tàu ngân dài, con tàu rẽ sóng tiến ra biển lớn. Mọi người bắt đầu say sóng, tôi chạy ngược lên boong. Trong cái nắng như đổ lửa, mùi dầu mỡ bốc lên hừng hực, gió thổi mạnh, vuốt lại mái tóc rối tung lòa xòa trong gió tôi vui mừng reo lên: “Đảo Lý Sơn đây rồi.”  Giữa biển khơi nghìn trùng, lại được nhìn thấy cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió khẳng định chủ quyền biển đảo, lòng càng thêm yêu tổ quốc. Xa xa Lý Sơn như chiếc lược ngà cài lên mái tóc biển cả, mây trắng trên trời như điểm xuyến vẻ đẹp lãng mạn, nên thơ giữa biển Đông đang dậy sóng .

Ấn tượng đập vào mắt tôi là vẻ đẹp hoang sơ và bình dị với bờ biển trong xanh và những đoàn thuyền đánh cá xếp dài sau những ngày vượt sóng. Hòa lẫn trong màu xanh trùng điệp của phong ba, bàng vuông là những gương mặt sạm đen vì nắng gió. Trong các cán bộ chiến sỹ hải quân đứng ở cầu tàu đón đoàn, tôi chú ý đến anh- một lính đảo có khuôn mặt rám nắng và nụ cười rạng rỡ. Trái tim tôi bỗng  xao động như có hàng trăm con sóng vỗ.

Chúng tôi lên bờ đã nghe phảng phất trong gió mùi hăng hắc của tỏi, mọi người đặt tên cho nó là vương quốc tỏi quả không hổ danh.  Đi đâu cũng thấy tỏi, người ta trồng tỏi như trồng lúa, tôi đưa lên miệng cắn thử một miếng, lạ kì ngọt quá chừng không cay như tỏi trong đất liền. Phẩm chất cần cù chất phát ăn sâu trong máu của người dân huyện đảo quanh năm đánh bắt cá trái mùa trồng hành tỏi lôi cuốn ám ảnh tôi mãi. Buổi sáng, đoàn thanh niên tình nguyện chúng tôi ra Hang Câu nhặt rác nhìn du khách đang lặn san hô ngâm mình trong làn nước trong xanh thấy tận đáy tôi mới biết Việt nam mình đẹp dường nào. Tôi đứng ngắm những con én làm tổ trên hốc đá, lũ hải âu lượn lờ đớp cá trên biển lòng bình yên đến lạ. Đoàn tiếp tục lên chùa Đục xuống chùa Hang, tôi leo lên tận mõm núi lửa chùa Đục toàn cảnh đảo Lý Sơn thu vào tầm mắt với tượng phật quan âm hướng ra bãi biển thơ mộng trong xanh với những rặng dừa rung rinh trong nắng gió. Ở đây thường xuất hiện những tay săn ảnh, những đôi uyên ương muốn ghi dấu khoảnh khắc ở cổng Tò Vò, nơi hòn ngọc đang từ từ lặn xuống giấu mình vào biển Đông.

Buổi chiều đoàn Thanh niên tình nguyện đến thăm các chiến sĩ trong Ban chỉ huy Quân Sự đảo Lý Sơn. Vừa bước chân vào đơn vị, trong cái nắng hầm hập oi bức của ngày hè ở biển đảo, chúng tôi đã ngỡ ngàng trước những con đường rợp bóng cây xanh của dừa nước, bàng vuông, mù u và phong ba. Vườn rau Tăng Gia của Đại đội Pháo mặt đất xanh mơn mởn những cải, mồng tơi, rau muống; đến cả những cây đu đủ xum xê quả và cả một đàn lợn béo ụ đang nằm ngủ thấy người đưa cái mõm dính đầy bùn đòi ăn; lũ gà vịt thấy người lạ chạy tán loạn. Thật đúng với câu khẩu hiệu “Ở đâu có bộ đội ở đó có rau xanh.” Đó là thành quả lao động đáng trân trọng của các chiến sỹ nơi đây, vừa huấn luyện vừa tăng gia sản xuất dù biển động vẫn không để thiếu lương thực.

Đoàn tình nguyện chúng tôi đến đảo vào cuối tháng năm là mùa hoa bàng vuông nở rộ. Tôi reo lên thích thú khi thấy tận mắt nhìn thấy hoa bàng vuông đang hé những nụ màu trắng xinh xinh giống như những bông hoa bưởi và hoa bàng vuông đang kết thành những quả bàng vuông có bốn góc như hình chiếc lồng đèn. Tôi với tay định bẻ một nhành hoa kiêu sa ấy. Bỗng có một bàn tay rắn rỏi, thô ráp đầy vết chai sạn nắm chặt tay tôi. Thoáng giật mình tôi lùi lại tròn mắt ngạc nhiên khi biết đó là bàn tay của anh lính đảo tôi đã gặp vào buổi sáng. Trái với thân hình rắn chắc trong bộ quân phục lính là giọng nói trầm ấm của chàng trai Quảng Ngãi “Tôi xin lỗi đã làm chị …à làm cô giật mình, nhưng đây là khu vực ươm trồng cây bàng vuông, có biển cấm ngắt hoa bẻ cành ở bên dưới, chắc cô không thấy.” Anh ta lúng túng gãi đầu.

“Ở đây không phải vương quốc của bàng vuông ư? Tôi thấy chúng mọc khắp nơi. Sao anh không cho tôi hái một quả?” Để che đậy sự lóng ngóng tôi vội vàng đáp trả.

Anh ta nhíu mày rồi nói “Đúng, ở quần đảo Trường Sa Hoàng Sa; từ đảo lớn, đảo bé, đảo nổi, đảo chìm; từ Trường Sa lớn cho đến Đá Lát, Thuyền Chài, An Bang, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Phan Vinh, Song Tử Tây và cả Lý Sơn này nơi đâu cũng có mặt cây bàng vuông vì lính đảo tụi anh trồng nó, nâng niu như một bảo vật, không dám ngắt một bông hoa, bẻ một nhành cây.”

Tôi trố mắt nhẩm theo những hòn đảo anh ta liệt kê, có những cái tên hòn đảo tôi chưa từng nghe qua “Thật lạ kì, bàng vuông trên đảo này nhiều như vỏ ốc biển, còn phụ nữ khan hiếm như nước ngọt. Biết khi nào có bóng hồng xuất hiện giữa trùng khơi. Sao anh ta lại nói năng nghiêm nghị vậy nhỉ?”

Như đọc được suy nghĩ của tôi, anh ta bật cười để lộ những đường răng trắng, tôi như ngất ngây mụ mị đầu óc. “Nhưng nếu cô thích ngày mai tôi sẽ tặng cô quả bàng vuông tôi khắc hình đảo Lý Sơn tôi nhặt được một lần đi tuần trên đảo.”

“Trái bàng vuông quý như vậy, sao anh không để dành tặng ai đó?” Anh ta cười “À đơn giản tôi ở đây toàn “lính phòng không” lấy đâu ra phụ nữ mà yêu, mà tán tỉnh.”

“Vậy anh đang tán tỉnh tôi đó sao?” tôi trêu anh ta

“Đó là cô nói chứ không phải tôi nói đấy nhé!”

Cảm giác có vẻ sượng sùng, tôi nói xua tan không khí gượng gạo: “Tôi vẫn nghĩ cuộc sống các anh sẽ bớt khó khăn vì gần đất liền nhưng bước chân lên đảo tôi mới thấy ở đây điều kiện vật chất còn nhiều thiếu thốn.”

“Anh may mắn khi ở hòn đảo Lý Sơn, một trong những hòn đảo tiền tiêu của tỉnh Quảng Ngãi, có vị trí chiến lượt quan trọng trong quốc phòng và an ninh. Nơi đây là quê hương của những đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ghi giấu những chiến công oanh liệt của ông cha đã dựng bia khẳng định chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên vùng biển Hoàng Sa – Trường Sa. Mặc dù đóng quân trong điều kiện thời tiết khó khăn cũng như vật chất còn thiếu thốn nhưng được sống và làm việc ở đảo ai cũng lấy làm vinh dự và tự hào. Những khó khăn của anh không bì với đồng đội đang làm việc ở nhà giàn, hay những đảo chìm  còn khắc nghiệt hơn đây nữa.”

Em đã nghe đâu đây câu hát “Nhà giàn trong  mây canh một hướng Tây Nam, khi nước triều lên nằm ngang mặt sóng“ có phải đúng như lời bài hát không anh?

“Đó là những ngôi nhà bê tông xây trên đá san hô chìm dưới mặt nước biển, diện tích rất nhỏ chỉ vài trăm mét vuông để cho đồng đội anh sinh hoạt và gác biển. Nhiều lúc không có khái niệm về thời gian, chỉ biết sáng và tối, chỉ cần một phút sơ sẩy cũng bị sóng đánh xuống biển làm mồi cho cá mập. Sáu tháng là mùa khô hứng nắng nẻ đầu, còn sáu tháng biển động với bão táp mưa sa. Trồng được khóm rau là mừng hết lớn nhưng chỉ cần một cơn mưa hay cơn gió mang theo hơi mặn là rau hư hết vì vậy bàng vuông mọc được trên đảo chìm cũng thật là kì tích.”

Như đã tìm ra đáp án cho hành động bộc phát của anh, tôi liền ngước mắt hỏi “Đó là lí do anh không cho em ngắt hoa bàng vuông?” Anh cười thành tiếng, đôi mắt như muốn nói điều gì.

Màn đêm buông xuống Lý Sơn lung linh như ngọn nến giữa đại dương. Đoàn chúng tôi được ăn cơm tối cùng ngư dân. Bữa ăn ngoài hải sản, còn có món đặc sản gỏi tỏi ngọt thanh, đậm đà. Sân khấu dựng lên, đèn điện đã trang hoàng xong. Những ca khúc về biển đảo được đoàn chúng tôi và các ca sĩ áo lính thể hiện trong tiếng hoan hô, vui mừng của các chiến sỹ. Tôi rời sân khấu ngồi xem những chiến sĩ trong ban chỉ huy biểu diễn. Trăng đêm nay đẹp quá, gió từ biển thổi vào mát rượi, tôi ngẩn người trước vẻ đẹp lãng mạn khi thấy hoa bàng vuông nở rộ rung rinh trong gió. Cảnh tượng thật quen thuộc tôi đã gặp nó ở đâu rồi. À, trong giấc mơ đêm trăng ấy! Tôi đang say sưa hồi tưởng lại giấc mơ bỗng có một nhành hoa bàng vuông nằm gọn gàng trong lòng tôi.

Giọng nói trầm ấm đó lại vang lên bên tai “ Tặng em” Tôi ngước nhìn lên thấy anh ấy đứng im lặng như không có chuyện gì xảy ra, đôi tai đỏ ửng vì xấu hổ. Tôi mỉm cười đón nhận rồi cười thầm cái bản tính khô khan của người lính.

“Sao tối nay em không thấy anh lên hát?” Anh lại cười, nụ cười tỏa nắng trên khuôn mặt chai sạm vì nắng gió “Mỗi người phải làm một nhiệm vụ, ai cũng tham gia văn nghệ thì lấy ai canh giữ đảo, ai hậu cần phục vụ nấu cơm? Thật tiếc, anh bận gác không đến xem văn nghệ được chỉ nghe tiếng em hát ở đằng xa. Giọng em ngọt ngào lắm. Tôi giấu đôi má đỏ au, khuôn mặt thẹn thùng bằng cách vẻ những hình thù ngoằn ngoèo trên cây bàng vuông: “Nếu anh không chê, có dịp em sẽ hát riêng cho anh nghe.”

Đôi mắt chàng chiến sĩ ánh lên niềm vui, sáng như ngôi sao trên trời “Được lắng nghe em hát không gì hạnh phúc bằng. Lính đảo tụi anh ở đây bốn bể là nước biển, chỉ có chim hải âu làm bạn, nên rất mong ngóng những chuyến tàu từ trong đất liền ra đảo,  nhất là những cô ca sỹ để có những đêm văn nghệ xua tan nỗi nhớ nhà. Mấy cái Tết xa nhà anh buồn nao lòng nhớ mẹ già ở quê, những người đã có gia đình thì quay quắt nỗi nhớ vợ con. Mỗi năm chỉ về đất liền thăm vợ con được 1 – 2 lần, nhưng ai cũng tự hứa phải hoàn thành tốt nhiệm vụ, sẵn sàng hi sinh vẫn quyết giữ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa, không để một tấc biển nào vào trong tay giặc.”

Nước mắt không rơi nhưng sao sóng mũi cay cay có tiếng hát trên sân khấu vọng lại:

“Tôi đang nghe Tổ quốc gọi tên mình

Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá

Sóng cuồn cuộn lên dáng hình đất nước

Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau”

Những cánh thư tay và cuộc điện thoại ngắn ngủi đã đem tôi đến gần bên anh, tình yêu của chúng tôi cứ thế lớn dần lên. Anh hứa nghỉ phép cuối năm nay anh sẽ về thăm tôi và ra mắt nội. Lần đầu nội chỉ thở dài khi nghe tôi nói về anh.

“Cháu đã suy nghĩ kĩ chưa? Hơn ai hết nội hiểu lấy chồng chiến binh là như thế nào. Đó là những năm tháng mỏi mòn chờ đợi, vừa làm mẹ vừa trụ cột của gia đình. Chỉ có tình yêu và niềm tin mới vượt qua tất cả.”

“Cháu thương anh ấy nội à. Đó không chỉ là tình yêu trai gái đơn thuần mà còn là tình yêu người lính.”

Nội không nói gì, nước mắt tự nhiên tuôn rơi, đôi vai run run. Nội khóc hu hu như đứa trẻ. Tôi cầm đôi tay nhăn nheo của nội và an ủi. Tôi hiểu những nỗi đau mất mát đã trút lên đôi vai gầy của nội. Cái ngày ông nội tôi tham gia cách mạng, nội ở nhà một mình vừa chăm con vừa thay cha mẹ quản lý lò muối. Bị bọn địch gông cùm, nhiều đòn tra tấn nào là “tàu bay” nào là “uống sữa” rồi treo cái bảng “Việt Cộng” trước ngực đi diễu quanh làng. Tưởng chừng chết đi sống lại bà vẫn không khai.  Nhưng nghe tin chồng mất, nội như ngã quỵ.

Nội một thân một mình nuôi cha tôi khôn lớn, học hành đến nơi đến chốn biết cả Tiếng Tây. Là một con người trí thức đứng trước vận mệnh nước mất nhà tan. “Đền nợ nước, trả thù nhà.” Cha tôi gửi lại mẹ già chiếc áo trắng khoác chiếc áo lính lên đường, đi theo tiếng gọi của Đảng. Nội bắt cha tôi phải cưới cô con nhà phú hộ làm mắm cùng làng trước khi lên đường nhập ngũ. Vâng, kết quả cuộc tình chính ép đó là tôi có mặt trên đời và người đàn bà mà tôi gọi là mẹ ấy đã đi bước nữa khi nghe tin cha tôi bị bọn tay sai hãm hại, hi sinh trên đường vào ngày giỗ ông nội. Nội tôi bỗng nhiên thành trắng tay, một lần hứng chịu quá nhiều nỗi đau, mất chồng, mất cả con, dâu bỏ đi, nhà bị tịch thu, vàng bạc lò muối bị giặc cướp hết. Thế nhưng chẳng hiểu vì sao, trước những biến cố tưởng rằng khó có thể vượt qua, nội vẫn thầm lặng chịu đựng và nuôi tôi trưởng thành.

“Bản thân cháu, gia đình dòng tộc ai cũng rất tự hào khi ông nội và cha của cháu là liệt sĩ. Và nội cũng rất hạnh phúc là một trong số hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng được Nhà Nước truy tặng phải không nội? Và cháu cũng muốn chồng của cháu cũng là người lính chiến đấu và bảo vệ tổ quốc như ông và cha cháu. Nếu nội chờ đợi được thì cháu tin cháu cũng làm được.”

Nội vuốt tóc tôi như những ngày còn bé: “Nội chỉ sợ cháu gái của nội khổ thôi. Lấy chồng bộ đội Hải quân, cháu phải hiểu chặn đường trước mắt cháu phải tự đi. Cháu phải chấp nhận chồng biền biệt nhiều năm không về. Một mình cháu phải cáng đáng tất cả, những lúc khỏe mạnh không sao, nhưng lúc trái gió trở trời con cái đau, bản thân bị ốm không ai chăm sóc cháu mới thấy cần một người đàn ông bên mình quan trọng như thế nào. Bản thân làm vợ lính đảo cháu phải nhớ 6 chữ: mạnh mẽ- hi sinh- chịu đựng để truyền lửa cho chồng công tác tốt. Riêng nội rất tự hào khi gia đình mình có thêm một chiến sĩ Hải quân” Tôi ôm chấm lấy bà và nói: Vậy nội đồng ý rồi nhé. Nội cười rồi mắng yêu: “Cha cô”

Tiếng hát của tôi vi vu theo gió, hòa vào tiếng sóng biển. Tôi và anh sóng đôi trên cát. Biển Lý Sơn đêm nay được dát vàng bởi ánh trăng huyền ảo, bầu trời như gần sát mặt đất, những tưởng chỉ cần với tay là chạm được chòm sao khuya lấp lánh. Hang Mù Cu yên tĩnh không một bóng người, chỉ có tiếng sóng rì rào vỗ vào bãi đá, hàng dừa xào xạc như kể chuyện về biển. Gió mơn man vuốt ve mái tóc, nước biển tràn lên đôi chân trần nghe mát rượi.

Anh im lặng đi sau lưng tôi, xoay người lại tôi té nước vào người anh. Anh mỉm cười cầm tay tôi ngồi xuống nhìn về hướng biển. Những chiếc đèn măng sông trên những con tàu đánh cá thắp sáng cả mặt biển đêm, như thứ ánh sáng của đất liền, ánh sáng của khu phố nơi tôi và anh từng sống.

Tôi thốt lên: “Anh ơi! Biển đêm trăng đẹp quá!” Giọng đều đều anh thì thào vào tai tôi “Em có tin ma quỷ không? Còn anh, anh tin linh hồn đồng đội anh đang trú ngụ quanh đây, trong tiếng sóng, dưới biển lạnh, trên tán bàng vuông và cả trong những ngôi mộ gió.” Tôi nắm chặt bàn tay ấm áp của anh “Em tin, nhưng xin anh đừng nhắc đến lúc này. Họ đã chết để cho mình được sống. Oan hồn, xương cốt còn vất vưởng đâu đây, anh linh họ hiện về sẽ phù hộ cho đồng đội anh.” Anh vỗ vỗ vào vai tôi “Không sao, em đừng sợ, họ cũng không hại ai đâu mà luôn dõi theo bảo vệ Tổ quốc linh thiêng.”

Anh cười thành tiếng, véo mũi tôi. Anh trêu em thôi, chứ trên đời làm gì có ma quỷ” “À! Thì ra anh trêu em.”  Tôi giả vờ xoay mặt đi giận dỗi. Anh lấy từ túi quần một bông hoa bàng vuông rồi cài lên tóc tôi, đôi mắt chất chứa nhiều điều muốn nói. Xa xa ánh trăng soi sáng hai vệt xám dài in trên mặt biển.

Tôi tỉnh giấc trong tiếng kinh cầu gõ mõ của nội, giấc mơ như cuốn phim quay chậm, tôi những tưởng chạm được vào anh bằng xương bằng thịt.

“Ngày mai cháu lại đi ư?”  “Vâng , Nội  à.

Lòng tôi nóng như lửa đốt khi những cuộc điện thoại hạnh phúc lúc màn đêm buông xuống không còn, những cánh thư tay thưa dần, lâu lâu tôi cũng nhận được những những e-mail ngắn ngủi « Anh đang trong đợt  kiểm tra toàn diện công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu nên rất bận. Có thời gian anh sẽ viết thư cho em. Hôn em. »

Tôi quyết định quay lại Lý Sơn vào dịp Tết nguyên đán với đoàn công tác nơi tôi làm việc. Hành trang mang theo là với một ít mứt Tết Nội làm tặng anh, để tạo bất ngờ cho anh tôi không viết trong thư. Chuyến đi lần này biển nổi sóng dữ dội, mưa như trút nước. Tôi bước chân lên bờ vẫn còn cảm giác chếch choáng mệt mỏi sau nhiều giờ lênh đênh trên biển với sóng to, gió giật.

Trong khuôn khổ chuyến thăm tại huyện đảo Lý Sơn, đoàn công tác đã đến dâng hương tưởng niệm tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và viếng nghĩa trang trên đảo Lý Sơn. Nhìn những ngôi mộ xây bằng xi măng vuông vắng, khói hương nghi ngút nằm im lìm trong khuôn viên nghĩa trang hướng về đất liền không ai không khỏi xót xa. Các anh được quy tập về đây trên đảo Lý Sơn này như được an ủi phần nào, trong giấc ngủ vĩnh hằng được ru bằng tiếng sóng, được nghe tiếng sơn ca ríu rít gọi bầy. Dòng người trong đoàn xúc động, lặng lẽ kính cẩn thắp hương trước mộ các liệt sỹ.  Những bia mộ khắc tên các anh chỉ độ mười tám, đôi mươi, họ hi sinh trong khi làm nhiệm vụ mà chưa từng cầm tay con gái, trong những giấc mơ tôi còn nghe kể họ ú ớ gọi mẹ ơi. Những giọt nước mắt các chị, các mẹ đã trào ra, có những giọt chảy ngược vào tim.

Bất giác tôi ngồi xuống ngôi mộ nằm gọn gàng dưới gốc bàng vuông. Tôi nghe bác Đại Tá kể cho đoàn tôi nghe về một liệt sĩ Quảng Nam, anh hi sinh khi tuổi mới 25, cái tuổi đẹp nhất của đời người. Tôi nghe mọi người kể lại đã chôn cạnh anh quả bàng vuông có khắc hình đảo Lý Sơn đó là kỉ vật của liệt sĩ này lúc còn sống. Nhưng thật kì diệu gần một năm sau từ một quả khô đã nảy mầm vươn lên mầm sống mới.

Tai tôi ù đi, khi nghe nhắc đến quả bàng vuông hình đảo Lý Sơn. Tôi vùng dậy chạy đến tìm ngôi mộ ấy, tôi đứng chôn chân chết lặng khi nhìn vào di ảnh. Vẫn nụ cười tỏa nắng ấy, vẫn khuôn mặt rám nắng ấy, thân hình tôi bỗng rung lên, mọi thứ nhòe đi trước mắt, không nén được tiếng nấc, tôi khóc vỡ òa trước sự ngạc nhiên của mọi người.

Vâng, chính đồng đội anh không nỡ cho tôi biết anh đã hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ trên biển. Họ đã gửi e-mail cho tôi những bức thư ngắn ngủi cứ thế thưa dần, thưa dần để tình cảm trong tôi dành cho anh vơi dần theo năm tháng. Nhưng họ không biết rằng tôi yêu anh đến nhường nào, những cảm giác, cảm xúc tôi gặp anh tại biển đảo này tôi không bao giờ quên.

Tiếng chuông chùa ngân vang, mùi hương trầm dịu nhẹ lan tỏa giữa thinh không hòa vào tiếng sóng, lòng người tự nhiên lắng lại. Tôi đến nghĩa trang đốt bức thư anh viết vội chưa kịp gửi cho tôi còn nguyên màu mực, và những bức thư nồng cháy tôi gửi cho anh. Tôi thắp nén hương cầu mong anh được siêu thoát,  phù hộ cho đồng đội thêm sức mạnh để vững vàng tay súng canh giữ chủ quyền Tổ quốc. Có cái gì đó chạm nhẹ trên tóc, tôi ngước nhìn lên những cánh hoa bàng vuông bay bay trong gió, vương trên làn tóc.

Tiếng còi tàu ngân dài từ xa vọng lại, như thổn thức, khắc khoải một cuộc tiễn đưa bịn rịn. Đã đến lúc phải nói lời tạm biệt anh- chàng chiến sĩ tôi yêu đang ngày đêm canh gác biển đảo, tạm biệt những con sóng ngày đêm vỗ bờ, bãi cát trắng trải dài mênh mông, tạm biệt ánh chiều tà, lũ chim biển chao nghiêng cánh mỏng, tạm biệt những ngư dân đôi mắt sáng, làn da rám nắng nụ cười hiền như thấy tận tâm can. Hít thở lần cuối mùi hương đồng tỏi bước nhẹ lên thuyền mà thấy lòng nặng trĩu. Sóng đánh xua con tàu ra biển, ốc đảo yêu thương anh ơi- Hẹn một ngày em sẽ trở lại!

Tiếng hát của cô ca sỹ Khánh Hòa lại vang lên trên tàu

Tiếng em hát xoá nhọc nhằn trong anh

Khi tàu em xa khuất chân trời tím

Anh ngồi đây canh giữ biển trời

Và anh vẫn hát, vẫn hát cùng em

Khúc hát biển quê hương!

Ngày mại tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, trong căn nhà cấp 4 lụp xụp, người mẹ già bỗng có thêm một cô con gái.

Thùy Dương Hoàng Thị

Thiên Thảo

Author: Thiên Thảo

“Thơ tôi vụng dại bên đời
Bán mua cũng lỗ nụ cười của em!”
– Thiên Thảo –

Facebook Comments
Đánh giá về bài viết này!